Xử lý nước thải dệt nhuộm

Hệ thống xử lý nước thải ngành dệt và nhuộm

Ngành công nghiệp dệt nhuộm đang là một ngành mũi nhọn của Việt Nam, doanh thu hàng năm đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Chính vì lẽ đó, nước thải công nghiệp dệt nhuộm cũng là một vấn đề lớn cần giải quyết nhằm mục đích xử lý nước thải đạt ngưỡng tiêu chuẩn khi trả lại nước cho tự nhiên. Nguồn nước thải trong công nghiệp dệt nhuộm phát sinh ra trong nhiều giai đoạn sản xuất, với sự biến động nồng độ chất ô nhiễm cao. Nguồn phát sinh chủ yếu từ giai đoạn hồ sợi, giũ sợi, tẩy, nhuộm và hoàn tất.

Với mục tiêu xây dựng hệ thống hoàn chỉnh nhằm xử lý các chất ô nhiễm có trong nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường vừa đảo bảo tính mỹ quan của công trình so với các công trình xung quanh, và tránh quá trình phát sinh mùi môi trong quá trình xử lý. Vì vậy việc lựa chọn công nghệ sinh học kết hợp với cơ học và hóa lý, là phương pháp tối ưu nhất được lựa chọn.

Công ty Toàn Á đã có nhiều năm kinh nghiệm trong ngành xử lý nước, xử lý nước thải xin được giới thiệu tới quý khách hàng một quy trình xử lý nước thải ngành dệt nhuộm phổ biến nhất:

THÀN PHẦN VÀ NỒNG ĐỘ CHẤT Ô NHIỄM ĐIỂN HÌNH TRONG NƯỚC THẢI

 

 

STT

 

THÔNG SỐ Ô NHIỄM

 

ĐƠN VỊ

 

GIÁ TRỊ

1 pH 7.2
2 BOD5 Mg/L 425
3 COD Mg/L 1780
4 SS Mg/L 478
5 Độ màu Pl-Co 350
6 Tổng Nitơ Mg/L 20
7 Tổng Phot pho Mg/L 9.6

 

 

SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ

Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải ngành dệt nhuộm

Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải ngành dệt nhuộm

THUYẾT MINH CÔNG NGHỆ

BỂ THU GOM:

Nước thải từ các phân xưởng sản xuất của công ty theo hệ thống mương dẫn nội bộ đi qua song chắn rác thô vào bể gom Tại đây rác thải có kích thước lớn gồm: Lá cây, giấy, giẻ, nylon… sẽ được giữ lại nhằm đảm bảo cho máy bơm, các cồng trình và thiết bị xử lý phía sau hoạt động ổn định. Các rác thải này sẽ được lấy lên thường xuyên để tránh làm tắc.

BỂ ĐIỀU HÒA:

Trong quá trình sản xuất giấy có sử dụng xút và các chất tẩy rửa, đồng thời quá trình tẩy mực in, đánh mầu cho giấy cũng thải vào nước rất nhiều loại hóa chất khác nhau, do vậy có thể làm pH trong nước thải thay đổi rất lớn. Để đảm bảo cho các khâu xử lý hóa sinh học phía sau, nước thải cần được kiểm soát và cân bằng pH tại bể điều hòa có máy định lượng lượng acid cần cho vào bể đảm bảo pH trung tính.

Ổn định lưu lượng và nồng độ chất gây ô nhiễm trong nước thải, trước vào các hệ xử lý tiếp theo.

BỂ KEO TỤ, TẠO BÔNG:

Sử dụng PAC để hòa trộn các chất với nước thải nhằm điều chỉnh độ kiềm của nước thải, tạo ra bông cặn lớn có trọng lượng đáng kể và dễ dàng lắng lại khi qua bể lắng I

BỂ lắng 1:

Tại bể lắng 1, các cặn sinh ra trong quá trình keo tụ tạo bông sẽ được loại bỏ. Phần bùn lắng sẽ được hút bỏ định kì

BỂ SINH HỌC MBBR:

Phương pháp sinh học hiếu khí sử dụng nhóm vi sinh vật hiếu khí, hoạt động trong điều kiện cung cấp oxy liên tục. Quá trình phân hủy các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật gọi là quá trình oxy hóa sinh hóa. Các vi sinh vật hiếu khí sẽ phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải và thu năng lượng để chuyển hóa thành tế bào mới, chỉ một phần chất hữu cơ bị oxy hóa hoàn toàn thành CO2, H2O, NO3, SO42- ,… Vi sinh vật tồn tại trong bùn hoạt tính của bể sinh học bao gồm Pseudomonas, Zoogloea, Achromobacter, Flacobacterium, Nocardia, Bdellovibrio, Mycobacterium, và hai loại vi khuẩn nitrate hóa Nitrosomonas và Nitrobacter. Thêm vào đó, nhiều loại vi khuẩn dạng sợi như Sphaerotilus, Beggiatoa, Thiothrix, Lecicothrix, và Geotrichum cũng tồn tại.

Để thực hiện quá trình oxy hóa sinh hóa các chất hữu cơ hòa tan, chất keo và các chất phân tán nhỏ trong nước thải cần di chuyển vào bên trong tế bào vi sinh vật theo ba giai đoạn chính như sau:

  • Chuyển các chất ô nhiễm từ  pha lỏng tới bề mặt tế bào vi sinh vật;
  • Khuếch tán từ bề mặt tế bào qua màng bán thấm do sự chênh lệch nồng độ bên trong và bên ngoài tế bào;
  • Chuyển hóa các chất trong tế bào vi sinh vật, sản sinh năng lượng và tổng hợp tế bào mới.

Tốc độ quá trình oxy hóa sinh hóa phụ thuộc vào nồng độ các chất hữu cơ, hàm lượng các tạp chất, mật độ vi sinh vật và mức độ ổn định lưu lượng của nước thải ở trạm xử lý. Ở mỗi điều kiện xử lý nhất định, các yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng oxy hóa sinh hóa là chế độ thủy động, hàm lượng oxy trong nước thải, nhiệt độ, pH, dinh dưỡng và các nguyên tố vi lượng… Tải trọng chất hữu cơ của bể sinh học hiếu khí truyền thống thường dao dộng từ 0,32-0,64 kg BOD/m3.ngày đêm. Nồng độ oxy hòa tan trong nước thải ở bể sinh học hiếu khí cần được luôn luôn duy trì ở giá trị lớn hơn 2,5 mg/l.

Tốc độ sử dụng oxy hòa tan trong bể sinh học hiếu khí phụ thuộc vào:

Tỷ số giữa lượng thức ăn (chất hữu cơ có trong nước thải) và lượng vi sinh vật: tỷ lệ F/M;

– Nhiệt độ;

– Tốc độ sinh trưởng và hoạt độ sinh lý của vi sinh vật (bùn hoạt tính);

– Nồng độ sản phẩm độc tích tụ trong quá trình trao đổi chất;

– Lượng các chất cấu tạo tế bào;

– Hàm lượng oxy hòa tan.

Các phản ứng sinh hóa cơ bản của quá trình phân hủy chất hữu cơ trong nước thải gồm có:

Oxy hóa các chất hữu cơ:

Ưu điểm của công nghệ MBBR so với công nghệ truyền thống:

Tất cả mọi thiết kế đều nhằm mục đích là hiệu quả xử lý, tiết kiệm năng lượng. Với công nghệ sinh học xử lý nước thải, chúng ta cần mật độ vi sinh vật cao nhằm mục đích đẩy nhanh quá trình oxy hóa sinh hóa. Nói nôm na là càng nhiều vi sinh ăn chất hữu cơ có trong nước thì quá trình xử lý sẽ nhanh hơn. Vấn đề ở đây là làm sao cho bề mặt tiếp xúc giữa nước thải, oxi và vi sinh vật càng cao càng tốt.

Giá thể lưu động MBBR được ứng dụng rộng rãi trên thế giới vài năm trở lại đây. Giá thể MBBR dạng hình cầu có kích thước Ø20 cm, có tỷ trọng nhẹ hơn nước nên trong quá trình sục khí, giá thể vi sinh bám dính di chuyển khắp nơi trong bể MBBR. Với mật độ này các quá trình oxy hóa để khử BOD, COD và NH4+ diễn ra nhanh hơn gần 10 lần so với phương pháp truyền thống.Nước thải sản xuất bia có hàm lượng N, P trong nước khá nhỏ nên chúng ta cũng không cần phải xây dựng bể thiếu khí Anoxic để khử N, P. Như vậy bể sinh học hiếu khí MBBR có nhiệm vụ xử lý các chất hữu cơ còn lại trong nước thải. Trong bể MBBR diễn ra quá trình oxy hóa các chất hữu cơ hòa tan và dạng keo trong nước thải dưới sự tham gia của vi sinh vật hiếu khí.Tại bể MBBR có hệ thống sục khí trên khắp diện tích bể nhằm cung cấp ôxy, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật hiếu khí sống, phát triển và phân giải các chất ô nhiễm. Vi sinh vật hiếu khí sẽ tiêu thụ các chất hữu cơ dạng keo và hòa tan có trong nước để sinh trưởng. Ở điều kiện thuận lợi, vi sinh vật phát triển mạnh, sinh khối tăng và tồn tại dưới dạng bông bùn dễ lắng tạo thành bùn hoạt tính. Sau quá trình oxy hóa (bằng sục không khí) với đệm vi sinh di động, bùn hoạt tính (tức lượng vi sinh phát triển và hoạt động tham gia quá trình xử lý) được bám giữ trên các giá thể bám dính di động dạng cầu.Nước thải sau khi qua bể MBBR sẽ tự chảy vào bể lắng sinh học.

 BỂ LẮNG 2:

Nước thải sau khi qua bể MBBR được phân phối vào vùng phân phối nước của bể lắng sinh học lamella. Cấu tạo và chức năng của bể lắng sinh học lamella tương tự như bể lắng hóa lý. Nước sạch được thu đều trên bề mặt bể lắng thông qua máng tràn răng cưa.

Hiệu suất bể lắng được tăng cường đáng kể do sử dụng hệ thống tấm lắng lamella. Bể lắng lamella được chia làm ba vùng căn bản:

–  Vùng phân phối nước;

–  Vùng lắng;

– Vùng tập trung và chứa cặn.

Nước và bông cặn chuyển động qua vùng phân phối nước đi vào vùng lắng của bể là hệ thống tấm lắng lamella, với nhiều  lớp mỏng được sắp xếp theo một trình tự và khoảng cách nhất đinh. Khi hỗn hợp nước và bông cặn đi qua hệ thống này, các bông bùn va chạm với nhau, tạo thành những bông bùn có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần các bông bùn ban đầu. Các bông bùn này trượt theo các tấm lamella và được tập hợp tại vùng chứa cặn của bể lắng.

HỆ THỐNG KHỬ TRÙNG:

Nước thải sau khi xử lý bằng phương pháp sinh học còn chứa khoảng 105 – 106 vi khuẩn trong 100ml, hầu hết các loại vi khuẩn này tồn tại trong nước thải không phải là vi trùng gây bệnh, nhưng cũng không loại trừ một số loài vi khuẩn có khả năng gây bệnh.

Khi cho Chlorine vào nước, Chlorine là có tính oxi hóa mạnh sẽ khuếch tán xuyên qua vỏ tế bào vi sinh vật và gây phản ứng với men bên trong của tế bào vi sinh vật làm phá hoại quá trình trao đổi chất dẫn đến vi sinh vật bị tiêu diệt.

Nước thải sau khi qua hệ thống xử lý đạt tiêu chuẩn nguồn xả: QCVN 40–2011/BTNMT (cột A).

BỂ CHỨA BÙN THẢI:

Bùn ở bể lắng sẽ được chuyển về bể thu gom và sẽ được hút bỏ định kì bằng xe chuyên dụng.

Nguồn: toana.vn

Category:

Hệ thống xử lý nước thải

Mọi ý kiến, thắc mắc hoặc cần tư vấn về sản phẩm xin vui lòng gọi ngay cho chúng tôi
Hotline: 0913 543 469


best counter