Những vấn đề thường gặp trong hệ thống xử lý nước thải

Một trong số những điều khiến người ta lo lắng nhất khi vận hành hệ thống xử lý nước thải đó là những sự cố, những thay đổi trong hệ thống, bùn bị trương nở, bùn thối, bùn nổi, có nhiều chất độc hại trong nước tồn tại, sự tạo bọt. Để tìm hiểu chi tiết về những vấn đề này thì mời bạn tham khảo bài viết sau đây.

A- Những thay đổi về hệ thống xử lý nước thải

Sự thay đổi về COD đầu vào: Đây là vấn đề quan trọng trong hệ thống xử lý nước thải, do đó luôn phải đề phòng việc chất độc tràn ra bất ngờ. Có thể do sự cố về đường ống, do mưa bão khiến cho lưu lượng dòng chất thải đầu vào bị thay đổi. Thay đổi cả về lưu lượng và đặc tính.

Sự tăng lên về lưu lượng có thể do rò rỉ nước mưa và nước hoặc các nguồn khác từ đường ống nước. Khi vấn đề này xảy ra thì việc thất thoát bùn hoạt tính hoàn toàn có thể xảy ra. Điều này dẫn đến nguồn nước thải sau xử lý trở nên đục hơn.

Để khắc phục được vấn đề này thì cần phải điều chỉnh tốc độ và lượng bùn thải trong bể aeroten. Khi lưu lựng nước thải vượt quá 300m3/ngày thì cần phải liên hệ với nhà tư vấn đề hiệu chỉnh cho chuẩn. Và vấn đề này thì công ty môi trường Toàn Á hoàn toàn có thể giúp đỡ bạn một cách dễ dàng.

Những thay đổi về đặc tính nước thải như tăng giảm nồng độ nito, photpho, COD/BOD cũng có thể sẽ là vấn đề cản trở lớn khi vận hành hệ thống xử lý nước thải. Do đó cần phải có sự quản lý chặt che để điều chỉnh cho phù hợp.

hệ thống xử lý nước thải chuyên nghiệp

Sự thay đổi nhiệt độ: Yếu tố bị ảnh hưởng nhiều nhất khi nhiệt độ thay đổi đó là than hoạt tính. Nếu là mùa hè thì hệ thống bùn hoạt tính có thể hoạt động ổn định, phạm vi ổn định, tốc độ thông khí ổn. Nhưng khi mùa đông đến thì tốc độ và phạm vi hoàn toàn bị thay đổi.

Nhiệt độ là yếu tố quan trọng trong quá trình oxy hóa. Nó liên quan đến sự tích bùn. Nhiệt độ cao có thể khiến cho tốc độ sinh trưởng vi sinh vật nhanh hơn, tích trữ được nhiều chất thải trong tế bào vi sinh vật với sự oxy hóa ít hơn.

Phương phức lấy mẫu khiến hệ thống bị thay đổi hoàn toàn: Khi thấy một thay đổi lớn trong quá trình điều đầu tiên đó là kiểm tra lại số liệu phân tích. Nếu vấn đề là do mẫu thì có thể thay đổi thay đổi phương thức để phù hợp hơn. Có thể nói phương thức lấy mẫu quyết định khá nhiều trong vận hành hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt. Khi thay đổi phương thức mẫu cần phải có sự tính toán, xem xét hệ thống hoạt động như thế nào rồi mới thực hiện thay đổi.

B- Sự cố với thành phần trong nước thải

Bình thường một cú sốc của việc vận hành hệ thống khiến cho cả một hệ thống chịu ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Trong đó sự cố về nguồn nước thải được xem là yếu tố ảnh hưởng vô cùng lớn.

Nếu nồng độ MLSS tăng lên, thì dòng ra sẽ giảm chất lượng và các vấn đề khác có thể phát sinh. Tuy nhiên nếu tốc độ bùn hồi lưu quá nhỏ thì lớp bùn hoạt tính sẽ trong bể sẽ tăng lên. Lúc này thì độ sâu của lớp đệm bùn có thể làm chất rắn sẽ trôi qua máng tràn trong khi lưu lượng lớn.

Một yếu tố khác của vấn đề hệ thống xử lý nước thải đó là thiết  bị lưu thông khí. Nguồn oxy được cấp vào bể cũng bị hạn chế. Khi dòng nước có thành phần chất rắn cao thì phải tăng lượng oxy lên.

Một yếu tố nữa là cho bản thân các vi sinh vật tồn tại trong nguồn nước thải. Nếu lượng oxy cung cấp vào bể aeronten bị hạn chế thì lượng vi sinh vật có thể duy trì trong bể cũng sẽ giảm khả năng phát triển. Và lúc này thì cuộc đấu tranh giữa các sinh vật bắt đầu.

C- Sự trương nở bùn

Trương nở bùn là hiện tượng mà độ lắng và tạo bông là rất chậm. Đệm bùng trong bể lắng quá dày và trôi theo dòng, nổi tràn qua máng. Khi trương nở bùn xảy ra còn kèm theo quá trình bùn khó lắng, bùn loãng, nhũ tương. Các sinh vật dạng sợi có thể phát triển và hoạt động nên ngăn chặn sự tạo khối của những hạt bùn dẫn đến khả năng lắng kém.

Vậy do đâu mà sự trương nở bùn lại diễn ra trong khi xử lý nước thải. Đó là do tuổi bùn thấp tức là tỉ số F/M cao khiến cho sự tái trương bùn nở diễn ra mạnh mẽ. Vi sinh vật sinh trưởng nhanh nên xu hướng sẽ không kết khối hoặc tạo bông cho đến khi tốc độ giảm. Để khắc phục được vấn đề này thì hệ thống xử lý nước thải cần phải tăng các hóa chất keo tụ vào bể lắng hoặc giảm lưu lượng nước thải vào bể Aeroten.

Khi xử lý bùn nở thì việc làm đầu tiên đó là giảm tỷ số F/M. Một trong những phương pháp xử lý bùn tốt có thể kể đến đó là thêm vào nhôm sunfat, FeSO4, FeCl3, hoặc dùng kiềm vôi có thể là CaCO3 với một chất keo tụ ngăn không cho kiềm giảm.

Một giải pháp đơn giản đó là có thể giảm lưu lượng nước thải vào bể Aeroten cho đến khi nào sự trương nở không còn diễn ra nữa. Sau đó thì có thể tăng dần lưu lượng bùn đến mức phù hợp.

Một số vấn đề cần lưu ý để tránh sự trương nở đó là:

Tỉ số F/M: Xem xét cẩn thận tỉ số F/M, tải lượng chất rắn vào, duy trì nồng độ MLSS thích hợp và điều chỉnh tốc độ bùn.

DO thấp: Không được để DO thấp, nên duy trì không dưới 2mg/l. Duy trì đo DO bằng máy để điều chỉnh lượng khí thích hợp bằng cách tăng giảm van khí.

Chu kì thông khí: Thường sự trương nở của bùn là vấn đề quan trọng cần để ý. Mà sự trương nở của bùn lại do chu kì thông khí. Nếu quá trình thông khí ngắn, chứng tỏ người vận hành tuần hoàn để lưu lượng bùn hồi lưu quá cao. Do đó cách khắc phục tốt nhất đó là giảm tốc độ bùn hồi lưu và làm sao để tốc độ chất rắn trong bùn hồi lưu đông tụ. Có thể sử dụng phương pháp tuần hoàn số lượng vi sinh vật tương tự để tiếp nhận thức ăn mới.

D- Sự sinh trưởng của sinh vật dạng sợi

Trong khi vận hành hệ thống xử lý nước thải, nếu phát hiện có sự sinh trưởng của vi sinh vật dạng sợi thì phải khắc phục ngay. Bởi nếu không thì sẽ rất khó điều chỉnh sau này. Sự phát triển của sinh vật dạng sợi có thể là do F/M bị mất cân bằng.

Có thể kiểm soát vi sinh vật dạng sợi bằng cách tăng MLSS như vậy có thể giảm F/M và tăng tuổi bùn.

vận hành hệ thống xứ lý nước thải

E- Bùn thối

Bùn thối là do quá trình bùn lưu lại quá lâu trong một nơi. Vì vậy mà gây ra mùi thối, đôi khi đóng thành khối. Nghiệm trọng hơn là nó có thể gây xáo trộn trong bể thông khí.

Bùn thối có thể xảy ra khi hệ thống ngừng hoạt động, hoặc để lưu quá lâu thì bùn trong bể lắng sẽ đặc. Để khắc phục bùn thối, bạn nên khuấy sục hoàn toàn bùn bơm. Khi thấy mức đệm bùn trong bể lắng tăng cao, bạn cần phải kiểm tra ngay. Nếu cẩn điều chỉnh thì phải thực hiện ngay để điều chỉnh lại dòng bùn hồi lưu càng sớm càng tốt.

F- Bùn nổi

Bùn nổi là hiện tượng mà bùn nổi thành từng mảng  hoặc từng hạt nhỏ trên bề mặt nước. Việc bùn nổi là hiện tượng thường thấy và nó gây ra hiện tượng váng bọt màu nâu.

Sự nổi bùn thường do dinitrat hóa, hoặc septicity và do thời gian lưu bùn quá lâu trong bể thứ cấp. Có thể khắc phục hiện tượng bùn nổi bằng Aeroten. Hệ thống bể lắng được trang bị bơm hút váng nổ bằng khí nén nên có thể hút được các tạp chất nổi. Khi bùn nổi xuất hiện chứng tỏ là dòng ra có chất lượng tốt.

G- Sự tạo bọt

  • Sự tạo bọt thường do sự mất cân bằng của nồng độ MLSS, DO. Do đó cách khắc phục đó là:
  • Duy trình nồng độ MLSS trong bể Aeroten cao hơn. Cách làm đó là tăng thời gian hoặc lưu lượng bùn hồi lưu.
  • Duy trì mức DO không được phép nhỏ hơn 2mg/l, giảm cung cáp khí trong thời gian lưu lượng thấp.
  • Nếu là bọt do chất tẩy rửa thì chất váng sinh ra từ sinh vật Nocardia sẽ có mặt trong nước. Khi Nocardia dư thừa thì vi sinh vật có thể tạo thành lớp vàng hoặc bọt khí dày đặc có màu nâu đen nổi trên bề mặt của bể thông.

Để điều khiển được Nocar thì bạn có thể áp dụng cách sau:

  • Tăng F/M bằng cách giảm hỗn hợp lỏng rắn MLSS trong bể aeroten.
  • Phun nước dọc theo bể thông khí để làm tan bong bóng.

Trên đây là những thông tin hữu ích mà Toàn Á muốn  gửi đến bạn đọc. Nếu bạn đang có nhu cầu tìm hiểu, lắp đặt, thi công dây chuyền xử lý nước thải. Toàn Á tự tin có thể mang đến được những gì tốt nhất dành cho bạn. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình. Hân hạnh được đón tiếp.

Leave your Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Send message via your Messenger App